Dịch Vụ DNS (Domain Name System)

DNS Là gì ?

DNS là tên viết tắt Domain Name System hay còn gọi là hệ thống phân giải tên miền. Cơ chế cốt lỗi của dịch vụ DNS là phân giải từ tên miền ra địa chỉ IP và ngược lại từ IP ra tên miền.

Trên thực tế khi một máy tính (client) truy cập 1 website qua URL địa chỉ website (ví dụ: tranhieuit.com) thì trình duyệt sẽ tìm đến máy chủ nào đang quản lý tên miền trực tiếp của nó. Website tranhieuit do máy chủ nào quản lý và có địa chỉ IP là bao nhiêu.

Sau khi tìm ra được máy chủ đang giữ tên miền tranhieuit.com thì nó sẽ trả lời cho client IP của tên miền mà máy chủ quản lý. Nếu không tìm được nó sẽ gửi yêu cầu truy vấn tên miền đến máy chủ quản lý tên miền cấp cao hơn.

Quá trình cứ như vậy đến khi tìm thấy máy chủ quản lý tên miền tranhieuit.com. Nếu không tìm thấy sẽ trả về cho client là không tồn tại tên miền đó.

Giới thiệu về DNS :

Mỗi máy tính hay thiết bị mạng tham gia vào mạng Internet đều giao tiếp với nhau bằng địa chỉ IP (Internet Protocol) . Để thuận tiện cho việc sử dụng và dễ nhớ người ta dùng tên (domain name) để xác định thiết bị đó.

Hệ thống tên miền (Domain Name System) được sử dụng để ánh xạ tên miền thành địa chỉ IP. Vì vậy, khi muốn liên hệ tới các máy, chúng chỉ cần sử dụng chuỗi ký tự dễ nhớ (domain name) như: www.microsoft.com, www.ibm.com…, thay vì sử dụng địa chỉ IP là một dãy số dài khó nhớ.

Bạn dễ dàng nhớ tên một ai đó thay vì nhớ số CMND (ID Personal) của họ.

File Host.txt

Khi DNS chưa ra đời, người ta sử dụng một file tên Host.txt (C:\Windows\System32\drivers\etc) file này sẽ lưu thông tin về tên host và địa chỉ của host của tất cả các máy trong mạng, file này được lưu ở tất cả các máy để chúng có thể truy xuất đến máy khác trong mạng.

Khi đó, nếu có bất kỳ sự thay đổi về tên host, địa chỉ IP của host thì ta phải cập nhật lại toàn bộ các file Host.txt trên tất cả các máy.

Hệ thống DNS (1984 Paul Mockpetris)

Do vậy đến năm 1984 Paul Mockpetris thuộc viện USC’s Information Sciences Institute phát triển một hệ thống quản lý tên miền mới lấy tên là Hệ thống tên miền – Domain Name .

Hệ thống tên miền này cũng sử dụng một file tên host.txt, lưu thông tịn của tất cả các máy trong mạng, nhưng chỉ được đặt trên máy làm máy chủ tên miền (DNS). Khi đó, các Client trong mạng muốn truy xuất đến các Client khác, thì nó chỉ việc hỏi DNS.

Chức năng của DNS là :

+ Phân giải địa tên máy thành địa chỉ IP và ngược lại.

+ Phân giải tên domain.

Máy chủ triển khai dịch vụ Domain Name System được gọi là Domain Name Server

DNS Namespace

– Hệ thống tên trong DNS được sắp xếp theo mô hình phân cấp và cấu trúc cây logic được gọi là DNS namespace.

Cấu trúc của hệ thống tên miền

– Hiện nay hệ thống tên miền được phân thành nhiêu cấp :

– Gốc (Domain root) : Nó là đỉnh của nhánh cây của tên miền. Nó có thể biểu diễn đơn giản chỉ là dấu chấm “.”

– Tên miền cấp một (Top-level-domain) : gồm vài kí tự xác định một nước, khu vưc hoặc tổ chức. Nó đươc thể hiện là “.com” , “.edu” ….

– Tên miền cấp hai (Second-level-domain): Nó rất đa dạng rất đa dạng có thể là tên một công ty, một tổ chức hay một cá nhân.

– Tên miền cấp nhỏ hơn (Subdomain) : Chia thêm ra của tên miền cấp hai trở xuống thường được sử dụng như chi nhánh, phòng ban của một cơ quan hay chủ đề nào đó.

 Phân loại tên miền

– Com : Tên miền này được dùng cho các tổ chức thương mại.

– Edu : Tên miền này được dùng cho các cơ quan giáo dục, trường học.

– Net : Tên miền này được dùng cho các tổ chức mạng lớn.

– Gov : Tên miền này được dùng cho các tổ chức chính phủ.

– Org : Tên miền này được dùng cho các tổ chức khác.

– Int : Tên miền này dùng cho các tổ chức quốc tế.

– Info : Tên miền này dùng cho việc phục vụ thông tin.

– Arpa : Tên miền ngược.

– Mil : Tên miền dành cho các tổ chức quân sự, quốc phòng.

– Mã các nước trên thế giới tham gia vào mạng internet, các quốc gia này được qui định bằng hai chữ cái theo tiêu chuẩn ISO-3166 .Ví dụ : Việt Nam là .vn, Singapo là sg….

DNS Server là gì ?

– DNS Server một máy tính có nhiệm vụ là DNS Server, chạy dịch vụ DNS service.

– DNS Server là một cơ sở dữ liệu chứa các thông tin về vị trí của các DNS domain và phân giải các truy vấn xuất phát từ các Client.

– DNS Server có thể cung cấp các thông tin do Client yêu cầu, và chuyển đến một DNS Server khác để nhờ phân giải hộ trong trường hợp nó không thể trả lời được các truy vấn về những tên miền không thuộc quyền quản lý và cũng luôn sẵn sàng trả lời các máy chủ khác về các tên miền mà nó quản lý.

DNS Server lưu thông tin của Zone, truy vấn và trả kết quả cho DNS Client.

Máy chủ quản lý DNS cấp cao nhất là Root Server do tổ chức ICANN quản lý

Đây là một máy chủ Server quản lý toàn bộ cấu trúc của hệ thống tên miền

Root Server này không chứa dữ liệu thông tin về cấu trúc hệ thống DNS mà nó chỉ chuyển quyền (delegate) quản lý xuống cho các Server cấp thấp hơn và do đó Root Server có khả năng định đường đến của một domain tại bất kì đâu trên mạng

Phân loại DNS Server

Primary Server :

Được tạo khi ta Add một Primary Zone mới thông qua New Zone Wizard.

Thông tin về tên miền do nó quản lý được lưu trữ tại đây và sau đó có thể được chuyển sang cho các Secondary Server.

Các tên miền do Primary Server quản lý thì được tạo và sửa đổi tai Primary Server và được cập nhật đến các Secondary Server.

Secondary Server :

DNS được khuyến nghị nên sử dụng ít nhất là hai DNS Server để lưu cho mỗi một Zone. Primary DNS Server quản lý các Zone và Secondary Server sử dụng để lưu trữ dự phòng cho Primary Server. Secondary DNS Server được khuyến nghị dùng nhưng không nhất thiết phải có.

Secondary Server được phép quản lý domain nhưng dữ liệu về tên miền (domain), nhưng Secondary Server không tạo ra các bản ghi về tên miền (domain) mà nó lấy về từ Primary Server.

Khi lượng truy vấn Zone tăng cao tại Primary Server thì nó sẽ chuyển bớt tải sang cho Secondary Server .Hoặc khi Primary Server gặp sự cố không hoạt động được thì Secondary Server sẽ hoạt động thay thế cho đến khi Primary Server hoạt động trở lại.

Primary Server thường xuyên thay đổi hoặc thêm vào các Zone mới. Nên DNS Server sử dụng cơ chế cho phép Secondary lấy thông tin từ Primary Server và lưu trữ nó. Có hai giải pháp lấy thông tin về các Zone mới là lấy toàn bộ (full) hoặc chỉ lấy phần thay đổi (incremental).

Caching-only Server

Tất cả các DNS Server đều có khả năng lưu trữ dữ liệu trên bộ nhớ cache của máy để trả lời truy vấn một cách nhanh chóng.

Loại này chỉ sử dụng cho việc truy vấn, lưu giữ câu trả lời dựa trên thông tin có trên cache của máy và cho kết quả truy vấn. Chúng không hề quản lý một domain nào và thông tin mà nó chỉ giới hạn những gì được lưu trên cache của Server.

Lúc ban đầu khi Server bắt đầu chạy thì nó không lưu thông tin nào trong cache. Thông tin sẽ được cập nhật theo thời gian khi các Client Server truy vấn dịch vụ DNS.

Nếu sử dụng kết nối mạng WAN tốc độ thấp thì việc sử dụng caching-only DNS Server là giải pháp hữu hiệu cho phép giảm lưu lượng thông tin truy vấn trên đường truyền.

Caching-only có khả năng trả lời các câu truy vấn đến Client. Nhưng không chứa Zone nào và cũng không có quyền quản lý bất kì domain nào. Nó sử dụng bộ cache của mình để lưu các truy vấn của DNS của Client. Thông tin sẽ được lưu trong cache để trả lời các truy vấn đến Client.

Stub Server

Là DNS Server chỉ chứa danh sách các DNS Server đã được authoritative từ Primary DNS

Sử dụng stub có thể tăng tốc độ phân giải tên và dễ quản lý.

DNS Zone

DNS Zone là tập hợp các ánh xạ từ host đến địa chỉ IP và từ IP đến host của một phần liên tục trong một nhánh của domain..

Thông tin của DNS Zones là những record gồm tên Host và địa chỉ IP được lưu trong DNS Server, DNS Server quản lý và trả lời những yêu cầu từ Client liên quan đến DNS Zones này.

Hệ thống tên miền (DNS) cho phép phân chia tên miền để quản lý và nó chia hệ thống tên miền thành Zone và trong Zone quản lý tên miền được phân chia đó.Các Zone chứa thông tin vê miền cấp thấp hơn, có khả năng chia thành các Zone cấp thấp hơn và phân quyền cho các DNS Server khác quản lý.

Zone file

Lưu thông tin của Zone, có thể ở dạng text hoặc trong Active Dicrectory.

Có 2 loại DNS Zone : Standard Primary Zone và Active Directory Integrated Zones.

Standard Primary Zone

Được sử dụng trong các single domain, không có Active Dicrectory .

Tất cả những thay đổi trong Zone sẽ không ảnh hưởng đến các Zone khác.Tuy nhiên nếu ta tạo thêm một Zone (Secondary Zone), thì Zone này sẽ bị ảnh hưởng từ Primary Zone. Secondary Zone sẽ lấy thông tin từ Primary Zone.

Quá trình chuyển thông Primary Zone đến Secondary Zone được gọi là Zone Transfer. Sau một khoảng thời gian nhất định, Secondary Zone sẽ cập nhật các records từ Primary Zone, quá trình này được gọi là synchronized ( đồng bộ hóa).

Khi Primary và Secondary Zones được tạo, các tập tin về Zone sẽ được lưu trên ổ đĩa cứng C:\Windows\System32\Dns.

Active Directory Integrated Zones

Mặc định sẽ được tạo khi máy tính chạy DNS Server được nâng cấp thành Domain Contronller. Active Directory Integrated Zones thực chất là Zone được nâng cấp lên từ Standard Primary Zone khi lên Domain Controller

DNS Zones được lưu như một đối tượng trong cơ sở dữ liệu của Active Directory.

Thông tin về DNS Zones đều chứa trên tất cả Domain Contronller. Cho phép việc cập nhật tự động cơ sở dữ liệu DNS Zones bảo mật (secure updates ).

Xem thêm >> Triển khai dịch vụ DNS trên Windown Server 2019

T.H

Hãy cho bài viết 1 Like nhé !
Love
Haha
Wow
Sad
Angry
You have reacted on "Dịch Vụ DNS (Domain Name System)" A few seconds ago
Rate this post